Hệ thống tín chỉ giáo dục châu Âu – Một hình thức quản lý chất lượng

Hệ thống tín chỉ giáo dục châu Âu (ECTS)được xây dựng dựa trên chính sách tự nguyện của các nước, khởi điểm từ Tuyên bố Sorbonne năm 1998, được giới thiệu trong khuôn khổ Erasmus (nay là một bộ phận của chương trình Socrates), được cụ thể hoá và hoàn chỉnh với Tuyên bố Bologne 1999 và Hội nghị Prague 2001.

http://giaoducthoidai.vn/dataimages/201005/original/images352977_1.jpg

ECTS ban đầu được thiết kế cho việc chuyển giao tín chỉ nhằm tạo điều kiện cho việc công nhận thời gian học tập của sinh viên ở nước ngoài, qua đó tăng chất lượng giảng dạy và số lượng sinh viên trao đổi giữa các nước châu Âu. ECTS sau đó được phát triển thành một hệ thống tín chỉ cộng dồn, áp dụng với các cấp độ học viện, khu vực, quốc gia và toàn châu Âu. ECTS dựa trên quy ước 60 tín chỉ đo lường khối lượng học tập mà một sinh viên chính khoá được trang bị trong một năm học. Đại đa số các chương trình đại học châu Âu thường gồm từ 36 đến 40 tuần mỗi năm, trong đó, mỗi tín chỉ ứng với 24 đến 30 giờ học. Khối lượng học tập là khái niệm thời lượng trung bình một người học cần có để lĩnh hội được bài học yêu cầu.

Như vậy có thể thấy hệ thống này phân chia thành các mắt xích, mỗi chuyên ngành học giống như một công đoạn sản xuất. Sau khi trải qua một công đoạn, sản phẩm – kiến thức của sinh viên được kiểm định bằng bài kiểm tra, bài luận hoặc báo cáo. Chất lượng sản phẩm được đánh dấu (giỏi, khá, …) và được chuyến sang công đoạn tiếp theo nếu đạt. Tuy nhiên, các công đoạn sản xuất lại không xảy ra liền mạch mà xảy ra đồng thời và gối lên nhau, thể hiện tính phức tạp trong nghiệp vụ quản lý.

ECTS được thiết kế nhằm mục tiêu:

  • – Giúp sinh viên trong nước và và nước ngoài dễ dàng hiểu và so sánh các chương trình học.
  • – Tạo điều kiện trao đổi sinh viên và chuẩn hóa bằng cấp.
  • – Hỗ trợ các trường đại học tổ chức và rà soát các chương trình học.
  • – Dễ dàng thích nghi với nhiều chương trình và phương thức chuyển tiếp.
  • – Thu hút sinh viên từ các châu lục khác đến học tập tại châu Âu.

Hệ thống tín chỉ dựa trên độ dài chính thức của chương trình học. Tổng khối lượng học tập yêu cầu đối với giai đoạn 1 đại học kéo dài từ 3 đến 4 năm tương ứng với từ 180 đến 240 tín chỉ. Khối lượng học tập bao gồm thời gian nghe giảng, thảo luận chuyên đề, tự học, chuẩn bị và làm bài kiểm tra… và phân bổ thành nhiều cấp độ trong chương trình học như các nhóm ngành học, môn học, thực tập, luận văn… cũng như xác định khối lượng học tập mà mỗi cấp độ yêu cầu trong tổng thể khối lượng học tập của cả năm học chính khoá.

Các tài liệu trong hệ thống ECTS bao gồm:

  • – Hướng dẫn thông tin và tài liệu khoá học của trường, in bằng 2 thứ tiếng (hoặc chỉ bằng tiếng Anh nếu chương trình học bằng tiếng Anh) và có thể truy cập trên internet. Tài liệu này phải bao gồm cả thông tin tiếp nhận sinh viên nước ngoài.
  •  Thỏa thuận đào tạo bao gồm danh mục các khoá học được sự thông qua của sinh viên và người chịu trách nhiệm tại trường. Trong trường hợp chuyển tiếp tín chỉ, Thảo thuận này phải được sự thông qua của sinh viên và người phụ trách của cả hai trường trước khi sinh viên khởi hành và phải được cập nhật ngay khi có thay đổi.
  • Bản sao hồ sơ kết quả học tập của sinh viên thông qua danh mục các khoá học đã tham gia, các tín chỉ đã đạt được cũng như văn bằng được trao theo hệ thống quốc gia cũng như theo ECTS. Trong trường hợp chuyển tiếp tín chỉ, Hồ sơ phải được trường sở tại cấp trước khi sinh viên khởi hành và được trường tiếp nhận cấp vào cuối chương trình học.

Cách tính điểm theo hệ thống ECTS:

Điểm quốc gia Điểm ECTS Loại Số SV cần đạt
 16 – 20  A  Xuất sắc  10%
 14 – 16  B  Rất tốt  25%
 12 – 14  C  Tốt  30%
 10 – 12  D  Khá tốt  25%
 08 – 10  E  Trung bình  10%
 06 – 08  F  Kém  0%
 00 – 06  G  Rất kém  0%

Với việc bước đầu áp dụng hệ thống giáo dục mới LMD (Licence – Master – Doctorat), Pháp đã có những bước đi tích cực trong việc ứng dụng chuẩn mực giáo dục chung của châu Âu. Cải cách không chỉ thay đổi tên gọi, cấu trúc hệ thống mà còn thay đổi cả các khái niệm, định nghĩa chuyên ngành, chất lượng đào tạo và giá trị văn bằng gắn với những đơn vị tín chỉ mà sinh viên đạt được. Cải cách giáo dục còn là một bước tiến chính trị quan trọng của Pháp trong liên minh châu Âu. LMD giúp hệ thống giáo dục Pháp tương thích với chuẩn mực giáo dục chung cũng như giúp các sinh viên có thể dễ dàng học chuyển tiếp giữa các nước châu Âu.

Hệ thống giáo dục của Pháp sẽ chuyển từ DEUG (năm thứ 2), Licence (năm thứ 3), Maitrise (năm thứ 4), DESS, DEA (thạc sỹ), và Doctorat (tiến sỹ) thành hệ thống LMD dựa trên 3 cấp độ học vị Licence (cử nhân), Master (thạc sỹ) và Doctorat (tiến sỹ), còn gọi là hệ thống 3, 5, 8 ứng với số năm học sau trung học để đạt được 3 học vị đó. Cấp độ L cần đạt 180 tín chỉ, cấp độ M cần đạt thêm 120 tín chỉ khi đã có Licence. LMD thực sự sẽ làm thay đổi nền tảng hệ thống giáo dục của Pháp, được coi là một cuộc cách mạng giáo dục nhằm giúp sinh viên thích ứng thực sự với đời sống xã hội hiện mang tính quốc tế hoá rất cao.

Trong thời gian chuyển tiếp, DEUG và Maitrise sẽ vẫn được duy trì. Tại các trường đã áp dụng hệ thống mới (chẳng hạn như đại học  Paris XI), sinh viên sau Licence có thể chọn lựa vào Master1 (Master năm thứ nhất, ngang với Maitrise trước kia). Bằng Master được chia thành các khối ngành (ví dụ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội…), các lĩnh vực (Master Luật, Master Quản lý công nghệ…), và các chuyên ngành (Luật hợp đồng, hay Quản lý mạng thông tin…). Các chuyên ngành sẽ được ghi rõ trên bằng M2. Trong các Master1 sẽ các định hướng lựa chọn hoặc bắt buộc để học tiếp M2. Thêm nữa, các bằng Master2 cũng sẽ ghi thêm là Master “nghiệp vụ” (định hướng đi làm sau khi tốt nghiệp) hoặc Master “nghiên cứu” (định hướng bảo vệ luận án tiến sỹ).

Bình luận của bạn

*

Đăng ký tư vấn nhanh

0944 788 798